Toạ đàm khoa học: Tranh chấp Biển Đông từ góc độ Nghiên cứu khoa học

Sáng thứ Bảy ngày 25/7/2015 tại Phòng D201 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) phối hợp cùng Phòng Quản lý Khoa học – Dự án tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề “Tranh chấp Biển Đông từ góc độ Nghiên cứu khoa học” do PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao, kiêm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu biển Đông trình bày.

Thế giới ngày nay đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau hơn bao giờ hết và chính sự phụ thuộc lẫn nhau này buộc tất cả các quốc gia phải cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi đưa ra bất cứ một quyết định nào. Từ góc độ này, các chuyên gia dự đoán là khó có thể có một cuộc chiến tranh hay xung đột...

Vào sáng thứ Bảy ngày 25/7/2015 tại Phòng D201 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) phối hợp cùng Phòng Quản lý Khoa học – Dự án tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề “Tranh chấp Biển Đông từ góc độ Nghiên cứu khoa học” do PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao, kiêm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu biển Đông trình bày.

Đến dự buổi toạ đàm có TS. Đào Minh Hồng - Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế; TS. Bùi Hải Đăng - Trưởng phòng HCTH; TS. Trần Anh Tiến - Phó Trưởng phòng QLKH-DA; TS. Trần Hoàng Hảo - Phó Trưởng phòng TCCB; TS. Nguyễn Nhã; ;
TS. Lê Thanh Hoà - Giám đốc TTNC Biển và Đảo TS. Trương Minh Huy Vũ - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên Khoa Quan hệ Quốc tế.


TS. Trương Minh Huy Vũ, giới thiệu chương trình làm việc. Ảnh: Việt Thành

Mở đầu chương trình, TS. Trương Minh Huy Vũ, Giám đốc trung tâm SCIS đã giới thiệu nội dung và chương trình của buổi toạ đàm Tranh chấp biển Đông từ góc độ nghiên cứu khoa học đến các học giả nghiên cứu, NCS, HVCH và sinh viên tham dự. TS. Trương Minh Huy Vũ cho biết các tọa đàm khoa học tương tự của SCIS sẽ là những hoạt động thường xuyên được trung tâm phối hợp với các bên thực hiện, và do vậy sự tin tưởng, quan tâm và trực tiếp tham gia của các nhà khoa học, các trí thực, NCS, HVCH và SV là hết sức có ý nghĩa.

Biển Đông từ góc độ Nghiên cứu khoa học

Tranh chấp Biển Đông đang ngày càng trở nên căng thẳng, trong khi các giải pháp giải quyết tranh chấp hiện nay chưa mấy khả thi. Xét từ góc độ nghiên cứu, Biển Đông là một trường hợp điển hình của nghiên cứu đa ngành trong lĩnh vực Quan hệ quốc tế, bao gồm các bình diện chính trị quốc tế và chính trị trong nước, quan hệ giữa các nước lớn với nhau và quan hệ nước lớn với nước nhỏ, quan hệ song phương và đa phương v.v. vốn dĩ là những cách tiếp cận chính yếu trong nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại. 

Trên nền tảng ấy, việc tiếp cận Biển Đông từ góc độ học thuật sẽ góp phần thiết thực vào bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc cũng như gìn giữ hoà bình, an ninh khu vực. Vấn đề biển Đông dần nổi lên tính phức tạp do bên ngoài Việt Nam đòi hỏi chủ quyền vô lý ở biển Đông, các tranh cãi đan xen, kèm với nó là những động thái đơn phương của nước lớn đã làm ảnh hưởng đến cục diện chung, do vậy các biện pháp giải quyết cũng phải toàn diện, kiên trì, mềm dẻo, kết hợp một các đồng bộ giữa đấu tranh chính trị - ngoại giao với đấu tranh pháp lý, biết khai thác chính nghĩa, biết dựa trên điểm mạnh của chính mình để chuẩn bị đương đầu với các thách thức quốc tế. Việt Nam cần coi nghiên cứu biển Đông là một trong những vấn đề nghiên cứu trọng tâm có tính mới bởi một mặt nó gợi mở nhiều hướng tiếp cận, hướng nghiên cứu mới, mặt khác nó giúp bổ sung hoặc củng cố những chứng cứ thuyết phục dưới nhiều góc nhìn khoa học. Hướng nghiên cứu đa ngành và liên ngành trong tiếp cận vấn đề biển Đông hiện nay là một hướng đi đúng đắn được nhiều tác giả ở Việt Nam và trên thế giới áp dụng. Tính đa ngành này trên thực tế còn được phản ánh trong các khía cạnh chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, và nhất là pháp luật liên quan đến xử lý tình huống biển Đông trong chính sách của các bên liên quan hiện nay. Trong bối cảnh đó, một chương trình nghiên cứu biển Đông có hệ thống sẽ hết sức có giá trị, trong đó có sự kết nối, tương tác giữa các lĩnh vực học thuật, giữa các phương pháp đặc thù của từng lĩnh vực đồng thời có phân tích đến các khía cạnh khác nhau của các phản ứng, các chính sách của các nước liên quan. 


PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng trình bày báo cáo. Ảnh: Việt Thành 

Sống chung với nước láng giềng lớn hơn: thực tiễn và chính sách.

Thế giới ngày nay đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau hơn bao giờ hết và chính sự phụ thuộc lẫn nhau này buộc tất cả các quốc gia phải cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi đưa ra bất cứ một quyết định nào. Từ góc độ này, các chuyên gia dự đoán là khó có thể có một cuộc chiến tranh hay xung đột vũ trang xảy ra trong khu vực bởi để lại nhiều hậu quả là không tránh khỏi. Tuy nhiên, các học giả cũng cho rằng Trung Quốc sẽ dần dần từng bước thực hiện “chiến thuật ép buộc” (coercive tactics) được dẫn dắt bởi lực lượng dân sự có sự chống lưng của lực lượng quân sự để củng cố sự kiểm soát các vùng biển tranh chấp một cách âm thầm, từng bước một. Để đối phó với mưu đồ này, Việt Nam và các nước ASEAN phải thực hiện đường lối ngoại giao tích cực, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng và tăng cường xây dựng năng lực quốc gia.

Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một thách thức. Các khó khăn này có những nguồn gốc từ(i) sự chênh lệch rõ rệt về tầm vóc - vốn là kết quả của cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài liên quan tới các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, chính trị, ngoại giao…, từ đó dẫn đến (ii) quan niệm về bản sắc nước lớn - nước nhỏ và từ đó đưa ra những đặc thù về hành vi nước lớn - nước nhỏ, theo đó nước lớn thường có tâm lý “đại quốc” và do vậy thường có thái độ và hành vi coi thường, chèn ép các nước bị họ coi là “tiểu quốc”. Trong tất cả các cặp quan hệ nước lớn - nước nhỏ, có hai yếu tố song hành nói trên tạo nên sự khó khăn trong quan hệ quốc tế.

Sự vượt trội về tầm vóc của một nước thường đi cùng với tâm lý và hành vi nước lớn của nước đó so với các nước khác. Nga , Mỹ, Nhật, Trung Quốc luôn thường trực tâm lý mình là nước lớn và từ đó có hành vi nước lớn thể hiện qua cách xác định lợi ích và cách thức đạt tới lợi ích của mình trong mối giao tiếp với các nước khác. 

Tình trạng mất lòng tin trong quan hệ quốc tế

Do tác động của tâm lý và hành động của các nước lớn, ở các nước nhỏ láng giềng cũng tồn tại tâm lý nước nhỏ và hành vi nước nhỏ. Tương tác giữa hai dạng nhận thức và hành vi này càng làm rộng thêm khoảng cách nước lớn - nước nhỏ, thậm chí khiến các nước nhỏ mất lòng tin vào nước lớn. Nhiều nghiên cứu cho thấy vì các lý do lịch sử và hiện tại, không nước nhỏ nào tin vào lòng tốt mà nước lớn dành cho mình, viện trợ bao giờ cũng có điều kiện về sự thuần phục, một hành vi không nể mặt của nước nhỏ bao giờ cũng phải trả giá... Ngoài ra, sự không nhất quán giữa lời nói và việc làm của các nước lớn thường xuyên xảy ra trong quan hệ quốc tế. Để tự bảo vệ mình, các nước nhỏ áp dụng chính sách lôi kéo bên thứ ba để tăng thế mặc cả cũng như tăng cường thảo luận nội bộ để lựa chọn chính sách tối ưu với nước lớn. Điều này làm cho nước lớn cũng mất lòng tin vào nước nhỏ. Vòng xoáy mất lòng tin vào nhau vì thế càng leo thang. Việc tổng kết các yếu tố kể trên cho thấy trách nhiệm làm giảm tình hình căng thẳng phần lớn thuộc về nước được coi là lớn hơn. Nước nhỏ có nhiều lý do để nghi ngờ động cơ và hành vi của mình và do đó nước lớn phải chịu gánh nặng lớn hơn trong việc xua tan sự nghi kỵ của nước nhỏ.

Tóm lại, việc áp dụng chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau) là một sự lựa chọn chính sách phổ biến hơn so với chính sách đối đầu (tức cân bằng lực lượng) với nước lớn láng giềng. Tuy nhiên, phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu chiến lược này, các nước nhỏ sẽ phải có những bước triển khai chính sách theo những phương châm đặc thù, thể hiện đúng so sánh lực lượng chênh lệch với nước lớn. 


Tọa đàm thu hút được các học giả trong và ngoài nước đến tham dự. Ảnh Việt Thành 

Tạm kết


Một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn là điều cần có đầu tiên ở các nước nhỏ hơn. Như đã phân tích ở trên, nếu chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau nhưng đều có đặc điểm là hòa bình chung sống, tôn trọng vị thế, ưu tiên lợi ích và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nước lớn láng giềng) là sự lựa chọn chính sách quốc gia thì một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn đó sẽ đóng một vai trò quan trọng. Ở mức cực đoan hơn, hòa hiếu thậm chí phải đối mặt với sự nhún nhường, nhượng bộ và chấp nhận một số thỏa hiệp miễn là không vi phạm đến mục tiêu căn bản của quốc dân và chính sách đối ngoại. Mức độ phải chịu “nín nhịn” có thể được giảm đi thông qua các giải pháp sau: (i) Về song phương, tăng cường xây dựng lòng tin và thỏa thuận quy tắc ứng xử, đồng thời tăng cường quan hệ các mặt để tạo thế đan xen lợi ích, nhất là kinh tế (ii) Mở rộng quan hệ với các nước thứ ba để tạo thêm thế và lực cho nước nhỏ trong quan hệ với nước lớn, và (iii) Tham gia các cơ chế đa phương để tạo thêm ràng buộc hành vi và trách nhiệm của nước lớn đối với nước nhỏ. 

Bản chất của chiến lược này là xây dựng sự lệ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích một cách rất linh hoạt. Đặc điểm của quan hệ quốc tế hiện nay cho thấy có điều kiện để chiến lược này được triển khai hiệu quả. Các đặc điểm đó bao gồm: sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ; toàn cầu hóa và sự lệ thuộc lẫn nhau; sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu; quá trình dân chủ hóa quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển và chi phối mạnh mẽ cục diện quốc tế... Ngoài ra, các nước lớn tuy cạnh tranh gay gắt với nhau cũng đồng thời tìm kiếm sự thỏa hiệp, đẩy mạnh hợp tác làm cho nhu cầu tìm kiếm đồng minh từ các nước nhỏ không còn trở nên bức thiết như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Hơn nữa, khi toàn cầu hóa phát triển, các nước đều có thể tận dụng lợi thế so sánh của mình để phát triển: nước nhỏ, kể cả nghèo nàn và lạc hậu, cũng có thể có cơ hội hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng như tham gia phân công lao động quốc tế. Kết quả tổng thể của tình trạng này là vai trò và vị trí của các nước nhỏ tăng lên trong chính sách của các nước lớn, đa phương được ưa chuộng hơn đơn phương, và các nước nhỏ có nhiều điều kiện hơn để giữ vững độc lập chính trị và phát triển kinh tế. Trong hoàn cảnh đó thuận lợi đó, nước nhỏ có thể bớt đi liều lượng “nhượng bộ”. Nếu bản chất của “Chính sách Câu Tiễn” là “biến đại sự thành tiểu sự” thì trong tình huống này, nước nhỏ - với sự hỗ trợ của các thể chế/ tổ chức quốc tế và sự ủng hộ của các nước khác - cũng có thể “biến tiểu sự thành đại sự” để dùng sức mạnh bên ngoài đấu tranh với nước lớn láng giềng (giới hạn ở trong phạm vi không làm mất mặt nước lớn). 

Tất nhiên, điều này càng chứng minh rằng những mặt thuận lợi mà điều kiện khách quan đưa lại phải được phát huy bằng những tư duy và chính sách có tính chủ quan. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một số nước đã có chính sách đối ngoại hiệu quả hơn, biết tận dụng hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi để đương đầu với nước lớn láng giềng hay chèn ép. Tuy có chung các điều kiện khách quan tương đồng, các nước nhỏ thường không có một khuôn mẫu hoặc công thức, chính sách chung để đương đầu với nước lớn láng giềng trong các hoàn cảnh cụ thể. Nói cách khác, mức độ linh hoạt, khôn khéo trong chính sách khác nhau sẽ đưa tới kết quả chính sách khác nhau, có lợi cho quốc gia – dân tộc mình.

• Tổng thuật từ tài liệu lưu hành của SCIS
Nguồn: Phòng QLKH-DA
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.