Hội thảo khoa học Quốc tế về Biển Đông lần thứ VII với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”

Hội thảo khoa học Quốc tế về Biển Đông lần thứ VII với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực” do Học viện Ngoại giao Việt Nam (DAV), Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông (FESS) và Hội Luật Gia Việt Nam (VLA) đồng phối hợp tổ chức từ ngày 23-24/11/2015 tại Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Hội thảo có sự tham dự của hơn 200 đại biểu, trong đó có gần 70 học giả quốc tế, 70 học giả và đại biểu Việt Nam, cùng hơn 30 đại diện của 19 cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam và hơn 30 phóng viên thuộc 17 hãng tin trong và ngoài nước tham dự hội thảo. Tại Hội thảo lần này, các chuyên gia hàng đầu thế giới về Biển Đông sẽ trình bày khoảng 30 bài tham luận về các lĩnh vực về Quan hệ Quốc tế, Luật Quốc tế, An ninh biển, Hợp tác biển v.v... chia đều trong 6 phiên:

(1) Tình hình thế giới và những tác động đến vấn đề Biển Đông;
(2) Những diễn biến gần đây trên Biển Đông;
(3) Quan hệ nước lớn ở Biển Đông;
(4) & (5) Luật pháp Quốc tế;
(6) Triển vọng tương lai; và
(7) Tình huống giả định: giải quyết, phân định, và hợp tác ở Biển Đông. 

Các diễn giả đã tiến hành thảo luận tình hình trên Biển Đông ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ chính trị, ngoại giao tới luật pháp, nhằm tìm kiếm các cơ hội và ý tưởng thúc đẩy hiểu biết và hợp tác ở Biển Đông trên tinh thần các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh tranh chấp trên Biển Đông trong năm qua có nhiều diễn biến phức tạp, Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ VII là cơ hội để các học giả nghiên cứu Biển Đông hàng đầu trong nước và quốc tế chia sẻ thông tin và đánh giá về các diễn biến gần đây và những hệ lụy ở khu vực Biển Đông, đồng thời thảo luận các khả năng thúc đẩy hợp tác trong khu vực. Bên cạnh chương trình chính, Hội thảo còn lần đầu tiên tổ chức Chương trình Các nhà Lãnh đạo trẻ (YLP) tập hợp 9 nhà nghiên cứu trẻ và nghiên cứu sinh tiến sỹ từ 7 quốc gia với mục tiêu xây dựng mạng lưới các nhà nghiên cứu trẻ về Biển Đông và thảo luận về các ý tưởng và sáng kiến hợp tác mới vì hòa bình và phát triển ở Biển Đông.

Hội thảo đã diễn ra khá sôi nổi với hơn 100 ý kiến thảo luận của các học giả, các nhà quản lý thực tiễn. Trong đó, phần lớn các đại biểu tỏ ra quan ngại sâu sắc về những hành động đơn phương của Trung Quốc. Đánh giá về tình hình chung, các đại biểu cho rằng tình hình thế giới có tác động tới tranh chấp trên Biển Đông theo hai hướng. Một mặt, các quốc gia đều có lợi ích với một Biển Đông hòa bình, ổn định và mong muốn đảm bảo quyền tự do, an toàn hàng hải, hàng không qua Biển Đông. Các quốc gia đều mong muốn thúc đẩy hợp tác về biển, trong đó hợp tác kinh tế biển đóng vai trò chủ đạo. Về những diễn biến gần đây ở Biển Đông, trên khía cạnh chính trị, chiến lược, các học giả nhất trí rằng để đảm bảo an ninh và ổn định ở Biển Đông, các bên cần thực hiện chính sách tự kiềm chế, giữ nguyên trạng, không thực hiện các hành động đơn phương trên Biển Đông như quân sự hóa các điểm chiếm đóng hoặc tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông. Tuy nhiên, một số đại biểu bày tỏ quan ngại về hoạt động cải tạo đảo trái phép với quy mô lớn, xây dựng đường băng và khả năng lắp đặt các trang thiết bị quân sự của Trung Quốc tại các công trình nhân tạo ở Biển Đông. Các diễn biến mới này có thể dẫn đến chạy đua vũ trang tại Biển Đông và đe dọa đến hòa bình, an ninh của khu vực. 

Các đại biểu đến từ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh chụp ành lưu niệm với học giả nước ngoài tham dự Hội thảo. Trái sang: PGS-TS. Phan Thị Hồng Xuân (Khoa Nhân học), GS. Brahma Chellaney (Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, New Delhi, Ấn Độ), PGS-TS. Trần Nam Tiến (Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo) và TS. Trương Minh Huy Vũ (Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế)

Tại Hội thảo, phần lớn các đại biểu tham gia đểu bác bỏ yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Trên khía cạnh pháp lý, các học giả tiếp tục nhấn mạnh vai trò của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) là cơ sở để xác định các quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia tại các vùng biển ở Biển Đông. Một số học giả Trung Quốc lập luận về quyền lịch sử mà Trung Quốc có thể vận dụng để giải thích đường chín đoạn ở Biển Đông từ góc độ tập quán quốc tế. Tuy nhiên, lập luận này không nhận được sự đồng tình của nhiều học giả vì lịch sử đường chín đoạn được các học giả Trung Quốc xây dựng trên cơ sở số lượng hạn chế các tài liệu chính trị, không tham khảo các nguồn tài liệu khoa học đa dạng khác nhau của các nước. Đồng thời, một số học giả đã đặt câu hỏi với học giả Trung Quốc về một số vấn đề như giá trị pháp lý của đường chín đoạn, nội dung bao hàm trong quyền lịch sử, thực tiễn Trung Quốc sử dụng biển trong lịch sử, cũng như việc không có giải thích chính thức của Chính phủ Trung Quốc. Bên cạnh đó, một số đại biểu chia sẻ về các nỗ lực giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trong đó có phán quyết về thẩm quyền của Trọng tài trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc và tác động của vụ kiện với triển vọng giải quyết và quản lý tranh chấp tại Biển Đông. 

Tại Hội thảo, các bài viết cũng như các ý kiến trao đổi cho thấy cần có những tiếp cận đa chiều trong việc giải quyết xung đột và hợp tác ở Biển Đông. Trên khía cạnh hợp tác, nhiều mô hình hợp tác trên các lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, bảo vệ an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn và hợp tác khai thác, quản lý tài nguyên đã được nhiều học giả thảo luận sôi nổi. Trong đó, mô hình hợp tác về tìm kiếm cứu nạn tại Bắc Cực và Bộ quy tắc về chống đâm va bất ngờ trên biển của Diễn đàn Hải quân Tây Thái Bình Dương (CUEs) được đặc biệt chia sẻ như là các bài học khả thi cho hợp tác tại Biển Đông. Tại phiên đàm phán giả định, các đại biểu cũng thảo luận về đề xuất thành lập Hội đồng chuyên gia của Liên hợp quốc để tư vấn cho các bên về lĩnh vực và khu vực hợp tác. Đề xuất này được các học giả của các bên có yêu sách tại Biển Đông ủng hộ trên cơ sở thực hiện nguyên tắc của Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và chấm dứt các hành động đơn phương tại Biển Đông.

Tại hội thảo, điểm nóng nhất thuộc về các phát biểu của các học giả Trung Quốc. Trong khi tình hình thực tế trên Biển Đông chưa có dấu hiệu giảm căng thẳng từ phía Trung Quốc thì tại hội thảo, các học giả Trung Quốc tiếp tục khẳng định hành động của nước họ ở Biển Đông là "phù hợp và không ảnh hưởng đến an ninh khu vực" (?). Học giả Thẩm Đinh Lập (Phó giám đốc Học viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế, Đại học Phúc Đán, Trung Quốc) cho rằng Bắc Kinh đang kiềm chế ở Biển Đông trong khi sự gây hấn đến từ các nước. Ông này nói: "Nhiều nước xây đắp trên các đảo ở Biển Đông nhưng không thấy nước nào phản ứng, nhưng khi Trung Quốc làm thì tất cả mọi người cùng phản đối. Đó là không công bằng”. Học giả này vẫn cho rằng việc làm của Trung Quốc là phù hợp. Thậm chí, ông ta còn lặp lại giọng điệu của chính quyền Bắc Kinh rằng cả việc quân sự hóa trên đảo nhân tạo mà Bắc Kinh xây dựng phi pháp ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng là vì mục đích phòng thủ!

Học giả Nông Hồng (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách và Luật Biển, Viện Nghiên cứu Nam Hải, Trung Quốc) phát biểu rằng, tuyên bố chủ quyền dựa trên những quyền lịch sử sẽ mạnh mẽ và có giá trị về luật pháp hơn là những tuyên bố chỉ dựa trên khái niệm Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Theo học giả này, giới nghiên cứu Trung Quốc và phương Tây có cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chủ quyền của các nước ở Biển Đông. Trong khi những nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng các khái niệm lịch sử vẫn tương quan với luật pháp quốc tế, giới nghiên cứu phương Tây không đồng quan điểm này. Nữ học giả Trung Quốc nhấn mạnh, do luật quốc tế không có những luật lệ rõ ràng để quản lý những quyền hàng hải lịch sử, nên tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không vi phạm luật pháp quốc tế. Nhìn chung, các đại diện giới học thuật Trung Quốc còn ngang ngược cho rằng lập luận dựa vào luật biển quốc tế năm 1982 (UNCLOS) làm nền tảng cho tranh chấp ở Biển Đông là không thể được chấp nhận.

Tuy nhiên, các phát biểu của các học giả Trung Quốc đã bị các học giả khác phản ứng. Bà Liselotte Odgaard (Học viện Quốc phòng Hoàng gia Đan Mạch) cho rằng giải thích của học giả Trung Quốc là không hợp lý và những phản ứng của Bắc Kinh ở Biển Đông đang thực sự là mối đe dọa của khu vực. Bà Liselotte cho rằng Trung Quốc đang cố gắng sử dụng nhiều cách tiếp cận để gây ảnh hưởng ở Biển Đông, từ biện pháp mang tính ngoại giao đến đe dọa vũ lực. Giáo sư Carl Thayer (Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia) cho biết Trung Quốc luôn biện minh cho những hành động gây hấn của mình và lấy lý do những hành động của nước khác làm cái cớ cho chính hành động của mình, Bình luận về phát biểu của ông Thẩm, ông Thayer cho rằng thật phi lý khi so sánh hành động nhỏ, không gây ảnh hưởng đến an ninh của các nước với hành vi của Trung Quốc trên qui mô lớn, xây dựng nhiều đảo nhân tạo cùng các đường băng phục vụ quân sự đe dọa cả khu vực.

Ông Bill Hayton (Nghiên cứu viên tại Viện Chatham House, Anh), trình bày về những bằng chứng không đáng tin của Trung Quốc trên Biển Đông dựa trên lịch sử. Theo ông Hayton, những nghiên cứu bằng tiếng Anh đầu tiên về Biển Đông xuất hiện sau khi Trung Quốc chiếm phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Kể từ đó đến nay phần lớn những nghiên cứu đều dựa trên các nghiên cứu ban đầu này như nguồn tham khảo về lịch sử. Do vậy, ông Hayton nhấn mạnh, các công trình này đều có cơ sở không đáng tin cậy, từ đó không thể tạo nên những lập luận khả tín. Ông khẳng định: “Các tác giả này không thường chú trọng vào tính chính xác của nguồn tin gốc, không viện dẫn nguồn tin của các nước khác ngoài Trung Quốc. Do vậy, những luận điểm của họ để diễn giải về vấn đề lịch sử chỉ mang mang tính một chiều”.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (ISEAS - Viện Yusof Ishak, Singapore) phát biểu: “Kể từ sau khi Trung Quốc điều giàn khoan vào vùng biển Việt Nam năm 2014 và bị chỉ trích vì hoạt động bồi lấp đảo năm 2015, những tuyên bố (chứ không phải chính sách) của nước này đã linh hoạt hơn như một cách để lại ‘đường lùi”. Trong quá trình ở rộng ảnh hưởng ở Biển Đông, "Trung Quốc vẫn căn cứ và sẽ bám vào những khẳng định lịch sử của họ, bởi vì họ chỉ có những bằng chứng này. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế không công nhận những luận cứ lịch sử của Trung Quốc đưa ra”, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định.

Trung tâm tổng hợp từ nhiều nguồn

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.